HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN

LIÊN KẾT WEBSITE

LK WEBSITE GIÁO DỤC

Lượt truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 7


Hôm nayHôm nay : 187

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 1900

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 133479

GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG - HẬU THẾ CẦN BIẾT

Thứ ba - 28/04/2015 10:24 | Số lần đọc: 584
Kế tục truyền thống Giỗ Tổ Hùng Vương và để tôn vinh giá trị tinh thần to lớn của di sản văn hóa truyền thống, Đảng, Nhà nước và Chính phủ đã chính thức quy định ngày Giỗ Tổ Hùng Vương là ngày Quốc lễ của toàn thể dân tộc (tại nghị định số 82/NĐ-CP ngày 06/11/2001).
 
Trong lịch sử ra đời và phát triển của các quốc gia trên thế giới, chưa có quốc gia nào lại có một truyền thuyết về lịch sử hình thành dân tộc một cách sinh động và đầy tính thuyết phục như truyền thuyết về các Vua Hùng chọn đất đóng đô dựng nước Văn Lang - Nhà nước đầu tiên của dân tộc Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã tìm ra bức thông điệp của những truyền thuyết dân gian ấy và khái quát hoá thành chân lý bằng lời dạy bất hủ: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước” để các thế hệ cháu con cùng nhau gìn giữ “giang sơn bờ cõi” và viết tiếp những trang sử hào hùng của dân tộc đến hôm nay và cả mai sau.
Xuyên suốt mấy nghìn năm kể từ thuở “khai thiên lập địa” đến thời đại Hồ Chí Minh với sự ra đời của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà nay là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bức thông điệp ấy luôn được các thế hệ người Việt Nam kế tiếp nhau gìn giữ và phát huy giá trị tinh thần vô cùng quý giá để truyền từ đời này sang đời khác và coi giá trị truyền thống ấy trở thành "quốc bảo" của cả dân tộc Việt Nam.
Bức thông điệp "Giỗ Tổ Hùng Vương" ngày càng được giải mã để làm rõ thêm nhiều giá trị về tính linh thiêng và nhiều giá trị truyền thống đạo lý quý báu được ẩn sâu trong những thông điệp về truyền thống, đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", "Ăn quả nhớ người trồng cây" và thông điệp về sức mạnh của tinh thần đoàn kết giữa các dân tộc để tạo thành một khối thống nhất trong tình ruột thịt với hai tiếng "Đồng bào".
Cũng từ bức thông điệp vô cùng quý báu của cha ông ta đã để lại cho hậu thế hôm nay, Đảng và Nhà nước ta đã làm tăng thêm giá trị của bức thông điệp và ngày càng làm sáng tỏ ý nghĩa lý luận to lớn về bản chất mang tính quy luật của lịch sử, làm cho nó trở thành một quy luật bất biến của quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tiến trình lịch sử dân tộc: “Dựng nước phải đi đôi với giữ nước”.
Từ xa xưa trên vùng Đất Tổ trung du Phú Thọ đã in đậm trong tâm thức của mỗi người dân bức thông điệp về Giỗ Tổ Hùng Vương thông qua câu ca truyền tụng nhau:
"Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày Giỗ Tổ mồng Mười tháng Ba
Khắp miền truyền mãi câu ca,
Nước non mãi nước non nhà ngàn năm”
Với ý thức ghi nhớ công lao của Tổ tiên cội nguồn dân tộc; với trách nhiệm là "dân trưởng tạo lệ" thông qua việc tổ chức giỗ Tổ Hùng Vương hàng năm vào ngày mồng mười tháng ba âm lịch thể hiện tấm lòng thành kính, biết ơn sâu sắc đối với các bậc tiền nhân được xuất phát từ tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên, ông bà từ hàng ngàn đời nay trên vùng quê Đất Tổ đã trở thành di sản tinh thần bền vững trong văn hóa truyền thống mang đậm bản sắc của người dân Đất Tổ nói riêng và của dân tộc Việt Nam nói chung.
Các thế hệ cha ông trên vùng quê Đất Tổ mong muốn gửi cho hậu thế bức thông điệp qua việc tổ chức Giỗ Tổ Hùng Vương để luôn nhắc nhở các thế hệ cháu con về cội nguồn dân tộc và tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên theo triết lý "Cây có gốc, nước có nguồn, con người có Tổ, có Tông" thể hiện lòng biết ơn, tri ân công đức các Vua Hùng đã có công dựng nước Văn Lang như trong bộ sách sử "Việt Sử Lược" xưa nhất của nước ta còn lưu lại đã chép thì vào thời đại tương đương với vua Trang Vương nhà Chu ở Trung Quốc (696- 681 Tr. CN): " Ở vùng Gia Ninh có một dị nhân có khả năng dùng phép thuật thần kỳ để thần phục các bộ lạc ở đó và tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Văn Lang và đặt quốc hiệu là nước Văn Lang, biết cách ghi chép sự kiện bằng cách thắt các nút dây thừng và biết làm chính trị, truyền được 18 đời tự gọi là Hùng Vương".
Thời vua Lê Thánh Tông, niên hiệu Hồng Đức nguyên niên  (1470) đã cho soạn Ngọc phả Hùng Vương với tên gọi đầy đủ là “Hùng đồ thập bát diệp Thánh Vương ngọc phả cổ truyền”, trong đó ghi rõ: "... Hoàng triều ta chuẩn cho miếu,  điện và các làng đăng cai là thôn Trung Nghĩa xã Nghĩa Cương được miễn tô thuế, tạp dịch để phụng thờ theo lệ cũ để dài lâu quốc mạch, lưu thơm muôn đời, thịnh cường mãi...".
Đến triều đại vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi), sau khi đã giải phóng đất nước khỏi ách đô hộ 20 năm của phương Bắc, đã khẳng định nền độc lập tự chủ và nền văn hiến lâu đời của nước Đại Việt qua bản tuyên ngôn về lòng tự tôn dân tộc bằng nguyên lý: “Vật gốc từ Trời, người gốc từ Tổ, ví như nước và cây phải có gốc nguồn... Vì rằng gốc có vượng thì lá mới tốt, nguồn có sâu thì dòng mới dài, nếu không có nhân ân của đời trước bồi đắp dày dặn, phúc trạch đời trước chung đúc lớn lao, thì làm sao lại có thể được như (ngày nay) vậy”. (Lời tựa sách “Lam Sơn thực lục”).
Trong Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sỹ Liên - bộ sử đầu tiên của nhà Lê đã ghi rõ quan điểm nhìn nhận, xác định giá trị về nguồn gốc của dân tộc cũng đã nói đến Núi Nghĩa Lĩnh - nơi có Đền Hùng và Giỗ Tổ Hùng Vương cùng với sự tự tôn dân tộc với các quốc gia láng giềng khác: "Sử để ghi chép việc, mà việc hay hay dở dùng làm gương răn cho đời sau... Nước Đại Việt ta ở phía Nam Nghĩa Lĩnh, thế là trời đã chia vạch Nam Bắc. Thuỷ tổ ta ra tự con cháu Thần Nông thị. Thế là Trời đã sinh ra chân chúa. Vì thế mới cùng Bắc triều đều làm chủ một phương”.
Trong “Bình Ngô đại cáo” Ức Trai Nguyễn Trãi lại khẳng định hùng hồn hơn nữa bằng áng hùng văn rung động lòng người:
"Như nước Đại Việt ta từ  trước.
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu.
Núi sông bờ cõi  đã chia.
Phong tục Bắc Nam cũng khác...”
Câu ca dân gian và tư tưởng của người anh hùng dân tộc Lê Lợi (thế kỷ XV), người đã được nhà yêu nước Phan Bội Châu tôn làm “vị tổ trung hưng thứ hai của dân tộc Việt Nam ta” và những chân lý lịch sử đã được sử sách ghi chép và đã được nêu trong tuyên ngôn của Bình Ngô đại cáo đã gửi cho hậu thế những thông điệp quý giá về công lao của các Vua Hùng - Vị thuỷ tổ của dân tộc đã đặt nền móng cho một quốc gia  trở thành một hiện thực gần gũi đối với mỗi người dân, mỗi gia đình, mỗi cộng đồng qua những nghi thức của tập quán thờ cúng Tổ tiên và Giỗ Tổ Hùng Vương được cộng đồng cư dân Phú Thọ gìn giữ qua bao đời nay làm thành bức thông điệp của lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.
Giỗ Tổ Hùng Vương là nghi lễ thiêng liêng nhất trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương của các thế hệ đi trước tri ân công đức các Vua Hùng đã trở thành biểu tượng của nghi thức thực hành tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương thông qua việc tổ chức Giỗ Tổ Hùng Vương là vấn đề linh thiêng nhất của tín ngưỡng đặc trưng văn hóa Việt Nam. Đó cũng chính là nền tảng cho lòng tự hào về một dân tộc có cội nguồn, có bản sắc văn hóa riêng và có nền độc lập chủ quyền về biên giới quốc gia đối với các nước lân cận.
Trải suốt thời Lê qua thời Tây Sơn tồn tại tuy ngắn ngủi, nhưng trong sách Nam Việt thần kỳ hội lục viết vào năm 1763 có ghi về việc triều đình ban sắc phong cho các địa phương thờ Hùng Vương thuộc Sứ Sơn Tây viết: "...Thánh Tổ Hùng Vương đền thờ chính tại xã Hy Cương, huyện Sơn Vi, xứ Sơn Tây (đã được ban sắc phong). Dân các xã thuộc các huyện, xứ cùng phụng thờ tổng cộng có 73 xã (trong đó có 12 xã được ban sắc phong, 61 xã chưa được ban sắc".  Năm 1789, Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ sau khi đại phá quân Thanh thắng lợi chỉ một tháng sau đã ban một ân điển có viết:"... Nay Trẫm vâng mệnh trời, giữ việc giáo hoá, xét theo điển cũ thờ tự, chuẩn cho xã Hy Cương được làm dân hộ nhi, ban xuống cho hợp thành ân điển, theo lệ cũ làm trưởng tạo lệ...".
Thời nhà Nguyễn (1882-1945), với chủ trương nêu rõ nguồn gốc của quốc gia nên Đền Hùng và việc phụng thờ Hùng Vương càng được đề cao. Triều đình chuẩn y cho chép vào bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục mở đầu từ thời đại Hùng Vương. Hàng năm, triều đình liên tục cử các quan đại thần và cấp tiền để tu bổ, xây dựng đền thờ và Lăng mộ Hùng Vương ở Đền Hùng. Quy định Xuân, Thu nhị kỳ hàng năm mở hội làm lễ tế. Hùng Vương được đưa vào hàng Thượng đẳng thần và rước linh vị các Vua Hùng từ Đền Hùng vào thờ tại miếu "Lịch đại đế vương" giữa kinh đô Huế.
Cùng với triều đình, nhân dân khắp nơi trong cả nước đã lập đền thờ các Vua Hùng và về Đền Hùng sao chép thần tích, ngọc phả đem về thờ ở địa phương mình. Dưới thời Nguyễn, đã thống kê có hơn 1.000 làng xã lập đền thờ với khoảng 1.600 di tích thờ Hùng Vương và vợ con tướng lĩnh của các Vua Hùng.
Từ năm 1917 đã chuẩn định ngày Quốc lễ (ngày Giỗ Tổ Hùng Vương vào mồng 10 tháng 3 âm lịch hàng năm). Trong ngày giỗ Tổ, triều đình đã uỷ quyền cho quan tuần phủ của tỉnh Phú Thọ về Đền Hùng làm Chủ lễ, các quan tri phủ, tri huyện làm bồi tế, hàng năm mở hội để nhân dân về phụng thờ hương khói Tổ tiên và tổ chức nhiều các trò chơi dân gian truyền thống. Quy định nghiêm ngặt cả về việc Lễ phẩm dùng cho ngày này là Tam sinh gồm: bò, dê, lợn, xôi... Trích số tiền tự lợi bao nhiêu, cùng số tiền 100 đồng do triều đình cấp mỗi năm, giao cho phủ Lâm Thao nhận lấy mua lễ phẩm. Nếu vào năm tròn, năm chẵn thì Hội đồng phải có sự bàn bạc thống nhất về lễ phẩm và nghi lễ sau đó trình lên Phủ đường có công văn xin thì mới được thi hành.
Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành sắc lệnh số 22C NV/CC, ngày 18/2/1946, qui định về các ngày nghỉ lễ, trong đó có ngày Giỗ Tổ Hùng Vương được nghỉ 1 ngày. Ngày 11/4/1946, nhân dịp Giỗ Tổ Hùng Vương đầu tiên của nước Việt Nam vừa giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đồng ý để nhân dân thủ đô Hà Nội tổ chức Giỗ Tổ Hùng Vương với các nghi thức truyền thống trọng thể ngay tại Thủ đô Hà Nội. Lần đầu tiên một nguyên thủ quốc gia, Chủ tịch nước Việt Nam mới đã đến dự cùng với đông đảo các tầng lớp nhân dân Thủ đô với linh khí thiêng liêng của ngày Giỗ Tổ hòa quyện với tinh thần cách mạng trong ngày độc lập dân tộc vừa thành công đã để lại dấu ấn sâu sắc trong ký ức của đông đảo quần chúng nhân dân thủ đô như một mốc son không thể nào phai.
Cùng thời gian đó, quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng dẫn đầu một đoàn đại biểu của Chính phủ đã đích thân lên Đền Thượng trong Khu di tích Đền Hùng tại Phú Thọ dự lễ và đã dâng lên ban thờ Tổ Tiên tấm bản đồ non sông gấm vóc Việt Nam và một thanh kiếm để thể hiện ý chí "Độc lập tự do; Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh" của toàn dân quyết giữ vững nền độc lập non trẻ của Tổ quốc.
Kế tục truyền thống Giỗ Tổ Hùng Vương và để tôn vinh giá trị tinh thần to lớn của di sản văn hóa truyền thống, Đảng, Nhà nước và Chính phủ đã chính thức quy định ngày Giỗ Tổ Hùng Vương là ngày Quốc lễ của toàn thể dân tộc (tại nghị định số 82/NĐ-CP ngày 06/11/2001).
Tất cả những việc làm của các triều đại phong kiến độc lập tự chủ (từ thế kỷ X đến năm 1858) và từ tháng 8/1945, sau khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh là quá trình xây dựng và củng cố một nghi thức mang ý nghĩa tâm linh to lớn của quốc gia dân tộc Việt Nam với mục tiêu xây dựng một biểu tượng, một động lực cho tinh thần đại đoàn kết toàn quốc gia - dân tộc, là chỗ dựa tinh thần của dân tộc chống lại sức ép đe dọa xâm lược của các thế lực đế quốc bên ngoài, làm thành bức thông điệp của quá khứ gửi cho các thế hệ hôm nay và mai sau có trách nhiệm bảo tồn và tiếp tục phát huy giá trị tinh thần vô giá về Giỗ Tổ Hùng Vương trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.

Tác giả bài viết: Lê Hữu Đồng - Sưu tầm

Tổng số điểm của bài viết là: 20 trong 4 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn